Pages

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Máy in 3D tạo ra pizza cho các nhà du hành vũ trụ

Chiếc máy in 3D này có thể tạo ra những chiếc bánh pizza với đầy đủ tinh bột, protein, chất béo, phun hương vị, mùi, và chất dinh dưỡng vi lượng.

Hồi tháng Năm năm ngoái, một người kĩ sư cơ khí có tên Anjan Contractor từng gây ấn tượng mạnh với giới công nghệ khi công bố chiếc máy in 3D có thể tạo ra bánh pizza để phục vụ cho các nhà du hành vũ trụ tại Cơ quan Vũ trụ và hàng không Mỹ (NASA). Và hôm nay chúng ta đã có thể xem đoạn video chiếc máy in 3D này thực hiện việc sản xuất pizza như thế nào.

Contractor cho biết chiếc máy in này có thể tạo ra những chiếc bánh pizza với đầy đủ tinh bột, protein, chất béo, phun hương vị, mùi, và chất dinh dưỡng vi lượng. Máy in của Contractor lấy các khối thực phẩm để tạo ra lớp vỏ, phô mai, và cái gọi là "lớp protein" cho các món ăn. Tất cả sẽ được nấu chín khi được in ra. Trên trang YouTube, Contractor cho biết sẽ mất khoảng 70 giây để nấu chiếc pizza sau khi nó được in ra từ máy in 3D.

Năm ngoái, NASA đã tài trợ cho Anjan Contractor khoản tiền 125.000 USD cho việc phát triển chiếc máy in 3D này. Dự án hứa hẹn sẽ giúp cho các phi hành gia có thêm một nguồn thực phẩm đủ dinh dưỡng thay thế cho thức ăn khô đóng hộp hiện nay. Contractor cho biết những hộp bột thực phẩm mà máy in sử dụng có thời hạn 30 năm, đủ thời gian để các phi hành gia in thức ăn dùng trong suốt hành trình lên sao Hỏa.

Công nghệ in 3D giúp sản xuất xe đạp chất lượng cao, giá rẻ

2 công ty RenishawEmpire Cycles vừa công bố 1 công nghệ mới giúp chế tạo khung sườn xe đạp dùng chất titanium bằng máy in 3D giúp tạo ra các mẫu xe đạp chất lượng cao, giá thành hợp lý.

Titanium được đánh giá là vật liệu tốt nhất để sản xuất khung sườn xe đạp, tuy nhiên, loại vật liệu này hiện có giá thành khá đắt đỏ.

Nhược điểm này có thể được khắc phục nhờ một công nghệ mới đến từu 2 công ty ở Anh là Renishaw (chuyên sản xuất chất phụ gia) và Empire Cycles. Nhờ áp dụng công nghệ in 3D, 2 công ty này có thể sản xuất được các khung sườn xe đạp bằng Titanium với giá thành rẻ, hứa hẹn cho ra đời những mẫu xe đạp chất lượng cao với giá thành hợp lý và trọng lượng nhẹ nhàng.

Theo công bố của Renishaw và Empire Cycles, hiện họ đã áp dụng công nghệ sản xuất mới vào dòng xe đạp leo núi MX-6 Evo. Phần khung xe đạp được sản xuất bằng máy nấu chảy laser có tên AM250 do Renishaw sản xuất. Trong quá trình sản xuất, Renishaw đã sử dụng một máy laser sợi Ytebi năng lượng cao để kết hợp (có chọn lựa) các hạt nhỏ trong đống bột hợp kim Titanium. Các lớp hạt hợp chất này sẽ được bố trí theo kiểu xếp chồng lên nhau để tạo nên các phần khung xe. Các thành phần này sau đó được liên kết với nhau bằng chất kết dính để tạo nên một chiếc khung xe hoàn chỉnh.



Do titanium có mật độ phân tử cao hơn so với nhôm (dẫn tới trọng lượng nặng hơn), nên để tạo ra một chiếc khung sườn xe có trọng lượng nhe, Empire phải tìm cách sử dụng một lượng titanium ít nhất có thể. Để làm được điều này, Empire đã sử dụng phần mềm tối ưu hình học topo. Phần mềm này có thể đánh giá các mẫu của từng phần trên khung máy và xác định xem phần nào không cần dùng tới quá nhiều titanium (tất nhiên vẫn phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo độ vững chắc cho bộ khung).

Kết quả của công nghệ này là chiếc khung xe chỉ nặng khoảng 1400 gram, nhẹ hơn 33% so với khung làm bằng nhôm. Trong bài kiểm tra sức chịu đựng trọng lượng chỗ ngồi, sản phẩm có thể chịu được trọng lượng gấp 6 lần so với tiêu chuẩn EN 14766 của xe đạp leo núi thông thường tại châu Âu. Các bài thử nghiệm sức chịu đựng khác của bộ khung này hiện vẫn đang được thử nghiệm.



Vậy làm như thế nào khung sườn làm bằng titanium có thể giúp tạo ra những mẫu xe đạp giá rẻ. Đó là nhờ trong quá trình nung chảy laser, toàn bộ lượng bột hợp kim titanium đều được tận dụng và không bị thất thoát. Ngoài ra, quá trình tối ưu hình học topo giúp cho lượng titan được sử dụng là ít nhất (nhưng vẫn đảm bảo sức chịu đựng).

In ấn 3D : Một ý tưởng mới cho sản xuất và kinh doanh

Hãy tưởng tượng cho một thời điểm không tưởng của một nhà sản xuất có thể sản xuất một sản phẩm thích hợp với chi phí thấp được sản xuất ngay trong nước chứ không phải ở nước ngoài.

In 3D không giống như in thông thường trong một máy in mà là được in cho ba chiều đối tượng thực tế (không phải là ảo). In 3D còn được gọi là "phụ gia sản xuất" bởi vì một đối tượng được thực hiện bằng cách in liên tục từng lớp nguyên liệu dựa trên một thiết kế xuất phát từ một tập tin kỹ thuật số.

Với in 3D, một sản phẩm có thể được thực hiện từ đầu dựa trên một thiết kế máy tính hỗ trợ, CAD, được tải về máy in. Máy in sau đó thực hiện phần còn lại, in ra từng lớp sản phẩm cho đến khi sản phẩm cuối cùng được tạo ra.

Các lớp để in được dưa trên bản vẽ CAD, cuối cùng tổng hợp cho đến khi một sản phẩm đã hoàn thành được phát triển. Sản phẩm này có thể là 1 bộ golf, một cái búa, tuốc nơ vít, hoặc thậm chí là một cái trợ thính. Nó cũng có thể được sản xuất để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của người mua.

Những ảnh hưởng của in ấn 3D
Với công nghệ như vậy, tầm quan trọng của nền kinh tế của quy mô giảm đi rất nhiều. Nền kinh tế của quy mô luôn luôn đóng một số vai trò quan trọng trong sản xuất. Tuy nhiên, một máy in 3D có thể làm suy yếu vai trò đó bằng việc có thể in (tạo ra) một sản phẩm dựa trên nhấp chuột của một kỹ thuật viên. Chi phí lao động cho sản phẩm là hoàn toàn không đáng kể. Trong thực tế, kể từ khi một máy in sẽ có thể tạo ra các phần riêng biệt của một sản phẩm và hợp nhất tất cả chúng với nhau, tổng chi phí của một sản phẩm duy nhất thấp hơn và ít hơn so với một sản phẩm truyền thống sản xuất. Đây là lý do tại sao các nền kinh tế của quy mô không còn quan trọng nữa.

Mô hình kinh doanh cần thiết cho sản xuất 3D trong tương lai
Người kinh doanh sẽ phải xem xét lại mô hình kinh doanh của họ trong tương lai bởi vì chi phí sản xuất chính của họ sẽ bao gồm mua máy in 3D và mua vật liệu. Địa điểm tổ chức sản xuất có thể là một tòa nhà đơn giản với không gian sản xuất đáng ngạc nhiên nhỏ và máy tính phòng trong đó kỹ thuật viên và kỹ sư đang "tạo ra" sản phẩm điện tử mà sau đó được chuyển giao cho các máy in 3D. Các máy in sau đó làm "hướng dẫn sử dụng lao động," theo các hướng dẫn của máy tính và điền vào đơn đặt hàng của họ. Cơ giới hóa tốt nhất của nó.

Trong môi trường kinh doanh của tương lai, giám đốc điều hành phải tập trung vào kỹ thuật, công nghệ máy tính, thiết kế sản phẩm, tiếp thị và nghiên cứu và phát triển. Họ cũng phải tập trung vào việc thuê nhân viên có tay nghề cao trong kỹ thuật và khoa học, đặc biệt là khoa học máy tính.

Lịch sử công nghệ in ấn

In ấn là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy, bìa các tông, ni lông, vải… bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thường được thực hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong ngành xuất bản.

Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về công nghệ in ấn - một trong những phát minh vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại.
Hàng nghìn năm kể từ sau khi chữ viết được phát minh ra ở Iraq, công việc sao chép tài liệu vẫn chủ yếu chỉ là chép tay. Một bản sao chép đòi hỏi lượng thời gian rất lớn, nó có thể tiêu tốn từ hàng tháng đến hàng năm trời mới có thể hoàn thành xong, và giá của những bản in này có lẽ chỉ thích hợp với túi tiền của tầng lớp thượng lưu. Điều này đã tạo ra một rào cản rất lớn trong việc lưu truyền kiến thức, thông tin, ý tưởng…., và do đó kéo tụt sự phát triển của cả một xã hội.

Chính sự thèm khát tri thức thông qua sách vở, tài liệu đã thúc đẩy con người phát minh ra một phương thức mới: in ấn. Kể từ khi những phương pháp in ấn đầu tiên ra đời tại Trung Quốc và Ấn Độ vào những thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, cho đến khi Xerox – Chiếc máy in điện tử đầu tiên được công bố vào năm 1949 tại Mỹ, lịch sử của công nghệ in ấn gần như đã song hành với nền văn minh nhân loại.

 Từ những phương thức in ấn thời kỳ sơ khai
Vào năm 175 sau công nguyên, Hoàng đế triều Hán ra lệnh thu thập và phong ấn những sách vở Khổng Giáo nhằm mục đích lưu lại những tài liệu vô giá này cho thế hệ sau. Điều này làm cho những trang sách của Khổng Tử trở nên cực kỳ khan hiếm, và những người theo đạo Khổng, với mong muốn sở hữu những cuốn sách này mà không cần phải đánh đổi lại bằng gần như toàn bộ gia tài của mình, đã khai sinh ra phương thức in ấn đầu tiên: giấy than. Bằng cách sử dụng giấy than đè lên trên bản gốc, sau đó chà xát nhiều lần bằng ván gỗ, họ đã có được một bản copy với nền đen chữ trắng.

Tuy nhiên, chính những người theo đạo Phật, chứ không phải những tín đồ Khổng giáo, mới là người tạo nên một bước đột phá trong công nghệ in. Nó được gọi là phương pháp in khuôn: những tài liệu, hình ảnh được khắc nổi trên một tấm ván gỗ, sau đó bôi mực lên trên, cuối cùng được dập vào giấy, quần áo… Công nghệ này sau đó trở nên cực kỳ phổ biến ở các nước Đông Á.

Ở Hàn Quốc, người ta đã tìm thấy những bản in của những trang Kinh Phật, với niên đại vào khoảng những năm 700-750 sau công nguyên. Ở Nhật Bản, công nghệ in thậm chí còn phát triển đến trình độ sản xuất hàng loạt. Năm 768 sau công nguyên, để tôn vinh phật tử Narra, triều đình đã đốc thúc việc in hàng loạt những loại bùa may mắn và những trang sách cầu nguyện. Có những tài liệu cho rằng dự án này đã kéo dài tới tận sáu năm, và số lượng những bản in được tạo ra lên đến hàng triệu bản. Nhiều bản vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Tuy nhiên, phương thức in khuôn tồn tại những nhược điểm quá lớn. Một bản in phải tốn rất nhiều thời gian mới có thể hoàn thành, và sau khi in xong, bản in sẽ nhanh chóng được ném vào sọt rác. Thêm vào đó, nếu như người thợ vô tình để lại một lỗi nhỏ trên bản in, coi như anh ta sẽ phải bắt đầu công việc lại từ đầu.

Để giải quyết những vấn đề trên, Bi Cheng, một người thợ in ở đời Tống đã nghĩ ra phương pháp in rời các văn tự. Đầu tiên, những văn tự này sẽ được khắc nổi trên một mảnh đất sét, sau đó mảnh đất sét này được nung lên và gắn với một tấm sắt mỏng — một bản in đã được tạo ra. Sau khi hoàn thành, bản in này sẽ được cắt rời ra và lưu trữ cho việc in ấn sau này.

Rõ ràng, đây là một ý tưởng vĩ đại nhưng hoàn toàn không có tính thực tiễn, khi những văn tự Trung Quốc có thể lên đến hàng nghìn con chữ riêng biệt. Tuy nhiên, công nghệ này vẫn nhanh chóng lan tràn khắp châu Á, và qua con đường Tơ lụa — sang châu Âu.

Cuộc cách mạng ở châu Âu
Với bảng chữ cái alphabet, công nghệ in rời trở nên đơn giản và dễ áp dụng hơn nhiều. Năm 1448, Johann Gutenberg trở thành người đầu tiên áp dụng phương pháp này. Gutenberg chọn những chất liệu kim loại để tạo ra những chữ cái, con số, hay những ký tự rời rạc, sau đó nhập chúng vào khuôn và sắp xếp để tạo ra một thông điệp trước khi nó được in ra hàng loạt.

Với vật liệu kim loại, rõ ràng công nghệ in của Gutenberg trở nên vượt trội so với những gì mà người Trung Quốc đã nghĩ ra: những bản in trở nên tinh xảo hơn, sắc nét hơn, đồng thời dễ bảo quản hơn. Ông cũng là người đầu tiên sử dụng loại mực in dầu vào công nghệ in, và với cải tiến này, bản in trở nên đậm nét hơn, bền hơn nhiều lần so với những bản in sử dụng loại mực nước trước đây.

Chỉ sau khi ra đời được hơn 40 năm, phương pháp in rời nhanh chóng lan ra khắp châu Âu với hơn 20 triệu cuốn sách. Nó đã thực sự tạo ra một cuộc cách mạng truyền thông vào thời điểm đó, và có thể nói, đây chính là phát minh mở ra một thời kỳ mới trong nền văn minh Châu Âu: thời kỳ Phục Hưng. Công nghệ in của Gutenberg đã được tạp chí Life Magazine đánh giá là phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử 1000 năm trở lại đây.

Và sau đó…
Công nghệ in ấn gần như không thay đổi trong suốt ba thế kỷ sau kể từ khi phương thức của Guntenberg ra đời. Phương thức này cho thấy tính hiệu quả cao hơn hẳn so với những phương thức trước đây, tuy nhiên, nó vẫn đòi hỏi quá nhiều sức lao động. Năm 1800, lãnh chúa Stanhope phát triển hình thức in ấn này bằng cách sử dụng những tấm thép nung, từ đó giảm nhân công lao động, tuy nhiên vẫn không cải thiện được năng suất (khoảng 250 trang/giờ).


Máy in đầu tiên chạy bằng hơi nước được thiết kế vào năm 1811 bởi kiến trúc sư người Đức Friedrich Koenig, với khả năng in ra khoảng 1100 trang/giờ. Máy in này sau đó đã được bán cho tạp chí Times, và ở đây nó đã được cải tiến để có thể in lên cả hai mặt của tờ giấy.

Tuy nhiên, phải đến khi máy in Lino ra đời vào năm 1884, lịch sử ngành in mới thực sự có một cột mốc đáng nhớ. Bằng cách sử dụng máy đánh chữ (type-writter), máy Lino cho phép nhập các ký tự bằng cách vận hành cơ học thay vì bằng tay như trước đây. Với công suất có thể lên đến hàng triệu bản in trong một ngày, máy in Lino đã đưa báo chí trở thành phương tiện truyền thông chính vào thời điểm đó.

Thế kỷ 20, kỷ nguyên của những chiếc máy in điện tử
Năm 1938, Chester Carlson, một sinh viên vừa tốt nghiệp trường đại học Caltech, đã phát triển ý tưởng tạo ra công nghệ “in khô” thông qua máy in điện tử. Anh đã cố bán ý tưởng này cho hơn 20 công ty , trong đó có IBM, tuy nhiên tất cả đều cho rằng anh chàng này đã mất trí –ai lại cần đến cỗ máy để làm thay công việc của một tờ giấy than?

Cuối cùng, đến năm 1949, tập đoàn Haloid tại New York đã đồng ý chi tiền để biến ý tưởng của Carlson thành sự thực. Họ gọi công nghệ này này là “Xerography” (tiếng Hy Lạp nghĩa là in khô), và sau đó tập đoàn này đã đổi tên thành Xerox – Tập đoàn in ấn lớn nhất thế giới hiện nay.

Cơ chế hoạt động của máy in này có thể được tóm gọn như sau: trục in sẽ được sạc tĩnh điện để tạo ra một điện thế có thể lên đến hàng vạn vôn, sau đó một luồng ánh sáng được quét qua bản gốc, gửi những hình ảnh từ bản gốc đến trục in, tạo ra sự khác biệt về phân bố điện tích trên trục in. Một loại mực bột đặc biệt sẽ được phun lên mặt trục in và dính vào trục in theo sự phân bố điện tích này. Cuối cùng, trang giấy được áp lên mặt trục in và sao lại hình ảnh từ đây.

Về cơ bản, một máy photocopy sẽ có ba trục: trục in để in lại những hình ảnh cần photo lên giấy, trục ép để ép chặt những hạt mực vào giấy, và trục lau để lau sạch trục in, chuẩn bị cho một lần photo mới.
Một chiếc máy photocopy cổ điển gặp rất nhiều vấn đề trong việc photo hàng loạt. Để photo ra 50 bản sao từ một bản gốc, bạn sẽ phải tiến hành quét đến 50 lần. Trong khi đó, với những chiếc máy hiện đại, được tích hợp công nghệ in số hóa và thiết bị in laser, bạn sẽ chỉ cần quét qua bản in một lần, những hình ảnh này sẽ được lưu vào bộ nhớ và thiết bị in sẽ tạo ra 50 bản in — nhanh hơn và hiệu quả hơn rất nhiều.

Công nghệ in laser
Máy in Laser được phát triển bởi Gary Starkweather, một nhà nghiên cứu thuộc tập đoàn Xerox vào năm 1969. Về cơ bản, những chiếc máy in laser cũng có cơ chế hoạt động tương tự như những máy photocopy, nhưng điểm cải tiến ở đây là việc sử dụng những chùm tia laser để quét qua văn bản gốc do đó rút ngắn được thời gian in và tăng công suất cho máy in. Với những văn bản đen trắng, những chiếc máy in laser có thể cho ra 200 bản photo trong vòng chưa đầy 1 phút. Và tốc độ này với những bản in màu là 100 bản/ phút — vẫn là một tốc độ cực kỳ lý tưởng.

Những chiếc máy in laser đầu tiên được bán với giá 8500 bảng Anh, con số nằm ngoài khả năng của nhiều người lúc đó. Trong khi hiện nay bạn có thể mua được một chiếc máy in laser tầm trung chỉ với giá khoảng 100 bảng, và với 150 bảng, bạn đã có thể sở hữu những chiếc máy in tương đương với những chiếc có giá 3500 bảng vào năm 1985. Ví dụ trên cho thấy những tiến bộ vượt bậc của công nghệ in ấn trong việc đưa sản phẩm này đến gần hơn với thị trường tiêu thụ.

Công nghệ in ma trận điểm (in kim)
Chỉ một vài năm sau khi công nghệ in laser ra đời, năm 1970, tập đoàn công nghệ điện tử Maynard, Massachusett đã cho ra mắt một sản phẩm mới: máy in ma trận điểm. Máy in này hoạt động có phần giống với một chiếc máy đánh chữ: nó bao gồm đầu in có thể di chuyển được, những đầu in này sẽ chấm qua một băng mực và làm hiện mực lên trang giấy cần in. Với việc những ký tự được tạo ra bằng những điểm, số lượng phông chữ trở nên rất đa dạng.

Ngay khi vừa ra đời, máy in ma trận điểm đã trở thành món hàng được ưa chuộng trên thị trường bởi sự linh hoạt, đa dạng mẫu mã, đồng thời giá thành lại rất phù hợp với túi tiền của người sử dụng. Tuy nhiên, những chiếc chiếc máy in này đã nhanh chóng trở nên lạc hậu do tồn tại quá nhiều nhược điểm: in chậm, độ phân giải của bản in rất thấp, lại không có khả năng in được hình ảnh và quá ồn ào khi làm việc. Ngày nay, những chiếc máy in này chỉ còn được sử dụng vào việc in các hóa đơn tại các cửa hàng, siêu thị.

Công nghệ in phun
Công nghệ in phun ra đời nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu chuyển những hình ảnh sống động trên máy tính thành những hình ảnh trên giấy. Đúng với tên gọi của mình, công nghệ này hoạt động bằng cách “bắn” những giọt mực lên giấy nền để tạo ra những hình ảnh mong muốn. Mực in sẽ được phun qua các lỗ nhỏ theo từng giọt với một tốc độ rất lớn (khoảng 5000 lần/ giây). Do kích thước rất nhỏ của mỗi giọt mực (chỉ với kích thước của một…sợi tóc), bản in được tạo ra sẽ trở nên cực kỳ sắc nét. Với mật độ lỗ kim rất dày, độ phân giải gốc của máy in có thể lên tới hàng nghìn dpi (nghĩa là máy in có thể phun hàng nghìn giọt mực trên 1inch giấy in, bằng khoảng 2,5cm). Đồng thời, khả năng pha trộn màu sắc rất đa dạng từ các màu cơ bản, công nghệ này có thể tạo ra những màu sắc rực rỡ nhất mà bạn muốn có trên bản in.

So với các máy in laser, máy in phun có những lợi thế lớn trong giá thành và khả năng in màu. Tuy hiện nay các máy in laser đã được cải tiến nhiều trong công nghệ và giá thành, nhưng máy in phun vẫn được coi là lựa chọn hàng đầu nếu như bạn muốn tạo ra những hình ảnh với màu sắc trung thực và sống động

Công nghệ in 3D
Những bước tiến vượt bậc trong công nghệ thiết lập những hình ảnh 3 chiều đã làm cho công nghệ in 3D không còn là chuyện viễn tưởng. Bạn có thể chuyển bất cứ hình ảnh nào thành những vật thể 3D: đèn pin, đồng hồ, iPod, và thậm chí là cả đồ ăn! Mặc dù mới ra đời và được nghiên cứu chỉ khoảng hơn 10 năm trở lại đây, nhưng công nghệ này hiện nay đã xuất hiện trên thị trường, tất nhiên, với giá trên trời: từ 2500 đến 25000 bảng Anh cho một chiếc, và còn hơn thế nữa với những loại cao cấp.

Vậy, công nghệ này hoạt động ra sao? Trước tiên, bạn cần tạo ra một vật thể mẫu đã được số hóa trên máy tính để có thể chuyển nó thành một bản in 3 chiều. Những thông số từ vật thể mẫu sẽ được gửi đến thiết bị in, thiết bị in sau đó sẽ tạo ra những lát cắt từ những chất liệu lỏng, sau đó “chồng” những lát cắt đó lên nhau để tạo ra một vật thể 3D thực sự từ một bản mẫu trên máy tính. Quy trình in tiêu tốn rất nhiều thời gian, vì nhiều khi bạn cần đến hàng nghìn, thậm chí hàng vạn lớp cắt để hoàn thành một bản in. Một mẫu thiết kế thu nhỏ của một tòa nhà chỉ với chiều cao khoảng 25cm có thể mất hàng ngày trời mới có thể hoàn thiện xong.

Tương lai của công nghệ in 3D là rất hứa hẹn, mặc dù nó mới chỉ ra đời trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Những nhà khoa học hi vọng rằng, trong một vài năm tới, một chiếc máy in 3D với khả năng tạo dựng nên những thiết bị điện tử phức tạp sẽ ra đời. Và những “bản in” này, theo họ, phải có khả năng hoạt động thực sự chứ không chỉ là những mẫu vật chỉ để trưng bày. Và ý tưởng này cũng đồng thời mở ra một tương lai nơi mà những nhà thiết kế có thể tạo ra ý tưởng của mình trên máy tính, “in” chúng ra thông qua những máy in 3D và bán chúng cho những người dùng khác. Đó thực sự là một bước tiến lớn trong việc đưa sức sáng tạo của con người ra vô hạn.

Có thể bạn chưa biết
Công cụ in cổ đại nhất được cho là chiếc đĩa Phaistos, được tìm thấy ở đảo Greek tại Hy Lạp, với niên đại vào khoảng những năm 1400-1800 trước công nguyên. Nhiều nhà khoa học tin rằng chiếc đĩa này là một trong những công cụ in ấn được chế tạo ra sớm nhất trong lịch sử nhân loại.

Kinh Kim Cương là bản in có tuổi thọ lâu đời nhất còn tồn tại cho đến nay, khi được ra đời vào khoảng năm 868 sau công nguyên. Cuốn kinh này đã được tìm thấy tại hang Đôn Hoàng nằm dọc trên con đường Tơ lụa lịch sử, vào năm 1907.

Kỷ lục in nhanh nhất thuộc về chiếc máy in IBM Infoprint 4100 với tốc độ in 330 trang trong vòng một phút. Nó cũng là chiếc máy in đắt nhất thế giới với giá thành vào khoảng 100 triệu đô la cho một chiếc.

Chiếc máy in đồ sộ nhất thế giới: Kỷ lục này thuộc về chiếc máy in MITSUBISHI  DIAMONDSTAR,với kích thước bằng khoảng… 1 tòa nhà 4 tầng. Giá thành 1 chiếc máy in vào khoảng 50 triệu yên Nhật, tương đương với khoảng hơn 6 trăm nghìn USD.

Cuộc cách mạng về công nghệ in ấn 3D

Có một sự chuyển đổi rất mạnh mẽ đang xảy ra trong thế giới hiện nay mà nhiều người gọi đó một “cuộc cách mạng công nghiệp mới”. Một trong những xu hướng đó là sự phát triển mạnh mẽ của công nghê in ấn 3D – quá trình tạo ra các vật thể đối tượng 3D từ một mô hình kỹ thuật số.

Điều này giúp cho các cá nhân, doanh nhân, nhà phát mình và nhà sản xuất đang có được khả năng tự sản xuất các đối tượng vật thể của riêng mình.

Để có thể tạo ra một sản phẩm bằng công nghệ in 3D, những người chế tạo cần các nguyên vật liệu phù hợp, một máy in 3D, và một thiết kế mô phỏng mô hình kỹ thuật số của vật thể mà họ định tạo ra.

Nguồn nguyên vật liệu cho quá trình in ấn 3D vô cùng đa dạng với hơn 100 loại vật liệu có sẵn. Phổ biến nhất là PLA (Poly Lactic Plastic) được sử dụng với mục đích tiêu dùng và ABS (Acrylonitrile Butadiene Styrene) trong các dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp.

Sự phát triển của máy in 3D và các công cụ chế tạo khác với khả năng truy cập dễ dàng và giá cả phải chăng theo xu hướng đang làm gia tăng nhu cầu đối với phần mềm thiết kế 3D của những người sử dụng hàng ngày. Với vị trí của một công ty hàng đầu trong lĩnh vực phần mềm kỹ thuật số 3D, Autodesk đang cung cấp cho các cá nhân, nhà sáng tạo, doanh nhân và nhà sản xuất những công cụ tốt nhất để thiết kế một mô hình 3D cần thiết để đưa vào quá trình in ấn. Với đối tượng những người tiêu dùng, Autodesk đang mang lại tổ hợp các ứng dụng, dịch vụ, và các cộng đồng để giải phóng sự sáng tạo bẩm sinh trong tất cả chúng ta và giúp các cá nhân kết nối với nhau, có sự truyền cảm hứng, và làm một cái gì đó thực tế. Autodesk cũng cung cấp những công cụ có sẵn trên nền tảng web và điện thoại di động để mọi người có thể truy cập những công cụ này bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào và từ các thiết bị mà họ đã có trong tay. Giờ đây người tiêu dùng có thể thiết kế chính xác các sản phẩm mà họ muốn bằng cách điều chỉnh và in ấn thiết kế họ lấy từ trên mạng, hoặc bằng cách chụp ảnh thực tế sử dụng hình ảnh kỹ thuật số với Autodesk 123D Catch bằng cách tạo ra một mô hình 3D, sửa đổi và sau đó đưa vào in ấn.

Ví dụ như gần đây, một trong số các chuyên gia của Autodesk đã tiến hành thiết kế mô phỏng một bức tượng Phật được trưng bày tại bảo tang nghệ thuật Châu Á tại San Francisco , Hoa Kỳ., với hợp tác chính thức của phía bảo tàng. Tại đây, ông Christian Pramuk, một nhà quản lý sản phẩm của Autodesk, đã sử dụng phần mềm 123D Catch để chụp 40 bức hình của bức tượng và sau đó tiến hành mô phỏng và in 3D bức tượng với máy in 3D MakerBot.

123D Catch hoạt động hơi giống như các chức năng nhìn toàn cảnh trên một máy ảnh kỹ thuật số, nhưng có nhiều tính toán tinh vi hơn. Có sẵn như là phần mềm máy tính hoặc iOS ứng dụng, chương trình sử dụng các điểm tham chiếu trong các bức ảnh để xác định vị trí nơi mà mỗi bức ảnh được thực hiện. Sau đó, nó đan các hình ảnh thành một mô hình 3-D và ghép vào phần thiếu dựa trên khu vực xung quanh, mặc dù việc tinh chỉnh thủ công để loại bỏ tiếng ồn xung quanh đôi khi cần thiết. Tất cả các xử lý được thực hiện trên điện toán đám mây của Autodesk, và kết quả có thể được tải về, chia sẻ, và in ấn. Sử dụng một chiếc máy ảnh DSLR và máy tính để bàn cung cấp độ phân giải cao hơn và nhiều tính năng hơn. Nhưng nếu chạy nó trên một chiếc iPhone hoặc iPad, và các ứng dụng sẽ tải lên lên tới 40 bức ảnh ngay từ thiết bị, và trả lại một mô hình kỹ thuật số trong một vài phút.

In ấn 3D đang trở thành một hiện tượng. Cần phải mất 20 năm để nó thực sự phát triển, nhưng sự tăng tốc của công nghệ này trong vài năm qua rấtđáng kinh ngạc. Bạn đang chứng kiến tất cả mọi thứ từ in ấn 3D tại nhà, đến nay chứng kiến nó xuất hiện trong các trường học và khu dân cư, nơi mọi người có thể tự làm ra mọi thứ cho riêng mình

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Trở thành triệu phú nhờ máy in 3D

 Một nhóm sinh viên tự phát triển máy in 3D giá thành rẻ đã thu hút được gần 3 triệu USD tiền ủng hộ để thực hiện dự án cũng như rất nhiều đơn đặt hàng thiết bị công nghệ tiên tiến này.

Công nghệ ngày một phát triển hơn bao giờ hết. Mới đây nhất, thiết bị cho phép “in” ra vật thể dưới dạng 3D đã được ra đời tuy nhiên giá thành rất cao của những chiếc máy làm cho người dùng khó lòng có thể tiếp cận được chúng. Nhóm khởi nghiệp Formlabs mới đây đã rất thành công do sáng tạo nên chiếc máy in 3D với giá thành rẻ.

Nhóm sản xuất ra sản phẩm này bao gồm 3 thành viên và họ đều là những sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học công nghệ Massachusetts. Họ là Maxim Lobovsky, David Cranor và Nate Linder. Formlabs được thành lập vào tháng 9 năm 2011 khi họ đều còn rất trẻ.

Với chiếc máy in 3D giá rẻ này, sản phẩm của Formlabs ban đầu có ý định huy động 100.000 USD (khoảng 2,1 tỷ đồng) để có kinh phí phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu và đặt hàng lâu dài. Tuy nhiên họ đã thu được tới 2.945.885 USD (khoảng 61,7 tỷ đồng) cho dự án nhỏ này. Hiện tại chiếc máy in 3D mang tên Form 1 có giá thành chỉ 3.299 USD (khoảng 69,2 triệu đồng), rẻ hơn rất nhiều so với các máy in 3D trên thị trường nhưng hiệu quả đạt được lại khá tương đương.

Điểm hạn chế duy nhất là kích thước của chiếc máy, do được thiết kế nhỏ nên những sản phẩm in ra cũng không quá lớn như những máy in 3D chuyên dụng khác. Còn lại đây là một sản phẩm tuyệt vời và sẽ rất phù hợp với những nhà quy hoạch, kiến trúc sư hoặc những nhà thiết kế để thử nghiệm sản phẩm của mình.